Nhiều người nhìn bức Ngũ Hổ hay Cá chép trông trăng thường nhầm đó là tranh Đông Hồ. Thực tế, đây là tranh Hàng Trống, dòng tranh dân gian từng phục vụ tầng lớp thị dân Thăng Long xưa. Khác với tranh Đông Hồ được in từ nhiều ván khắc, tranh Hàng Trống chỉ in nét viền rồi tô màu thủ công bằng bút lông. Chính cách làm nửa in nửa vẽ này tạo nên sắc độ mềm mại và khiến mỗi bức tranh đều mang một vẻ riêng. Bài viết dưới đây của Mỹ thuật Bụi sẽ giúp bạn hiểu rõ nguồn gốc, kỹ thuật và giá trị của dòng tranh này.
Tranh Hàng Trống là một trong ba dòng tranh dân gian tiêu biểu của Việt Nam, cùng với tranh điệp Đông Hồ ở Bắc Ninh và tranh đỏ Kim Hoàng ở vùng Hoài Đức, Hà Nội.
Tên gọi bắt nguồn từ nơi sản xuất tập trung nhất của dòng tranh này là phố Hàng Trống, thuộc khu vực nay là quận Hoàn Kiếm. Trước kia, nghề làm tranh còn lan sang các phố lân cận như Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạt, tất cả đều nằm trong tổng Tiên Túc xưa, sau đổi thành tổng Thuận Mỹ, thuộc huyện Thọ Xương của kinh thành Thăng Long.
Các hiệu tranh nổi tiếng một thời từng in kèm tên hiệu ngay trên tranh để cạnh tranh buôn bán, tiêu biểu như Thanh An, Vĩnh Lợi, Phúc Bình.

Tranh cá chép vượt vũ môn Hàng Trống
Về mốc thời gian ra đời, phần lớn tài liệu phổ thông đều nhắc đến khoảng thế kỷ 16, dưới thời Lê. Nhưng nếu tìm kỹ hơn, có hai bằng chứng đáng chú ý cho thấy dòng tranh này có thể đã tồn tại từ sớm hơn nhiều:

Chính nghệ nhân Lê Đình Nghiên, người duy nhất còn giữ nghề hiện nay, cũng thừa nhận giới nghiên cứu khó xác định chính xác năm khởi nguồn, nhưng chắc chắn dòng tranh đã có từ rất lâu, gắn với nhu cầu treo tranh ngày Tết vì tâm linh và ước vọng của người dân.
Dòng tranh phát triển rực rỡ nhất vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi tranh được bày bán khắp các khu Hàng Bồ, Hàng Nón, Hàng Trống, và các phường thợ khắc từ Hàng Gai, Hàng Đẫy, Hàng Gà cũng mang tranh về đình Hàng Trống bán vào mỗi phiên chợ giáp Tết. Từ giữa thế kỷ 20, do biến động lịch sử và những thay đổi trong đời sống văn hóa sau năm 1975, nghề làm tranh dần mai một. Nhiều nghệ nhân đốt bỏ ván khắc, bản gỗ và chuyển sang nghề khác vì tranh không còn mang lại thu nhập ổn định.
Phần lớn tranh Hàng Trống nguyên bản từ các thế hệ trước hiện chỉ còn lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, cùng một số bộ sưu tập tư nhân. Riêng bức Ngũ Hổ khổ lớn, một trong những bản còn giữ được vẻ đẹp thuần khiết nhất của phong cách Hàng Trống, hiện vẫn còn ở chùa làng Kim Liên, Hà Nội.
Câu trả lời nằm ở nơi ra đời và tệp khách hàng của mỗi dòng tranh.

Hai dòng tranh dân gian với phong cách và kỹ thuật khác nhau
Chính đặc điểm này khiến không có hai bức tranh Hàng Trống nào tô màu giống hệt nhau. Đây cũng là lý do vì sao gam màu trên tranh Hàng Trống thường uyển chuyển, êm ái hơn hẳn tranh Đông Hồ, còn đường nét lại có phần bay bổng, gần với hội hoạ hơn là đồ hoạ in ấn thuần tuý.
Nói cách khác, sự khác biệt giữa hai dòng tranh không nằm ở việc bên nào giỏi hơn, mà nằm ở việc mỗi dòng tranh được thiết kế để phục vụ một tệp khách hàng và một mục đích sử dụng khác nhau. Đông Hồ ưu tiên số lượng và giá thành. Hàng Trống ưu tiên chiều sâu thẩm mỹ và tính độc bản.
Người trong nghề gọi kỹ thuật đặc trưng của tranh Hàng Trống là nửa in nửa vẽ. Một bức tranh hoàn chỉnh phải trải qua ba công đoạn chính, mỗi công đoạn đòi hỏi một kỹ năng khác nhau.
Công đoạn đầu tiên là ra mẫu, do người thợ giỏi nhất trong nhóm đảm nhiệm. Trong lịch sử dòng tranh, những người ra mẫu nổi danh được ghi nhận gồm các cụ Lê Đình Thổ, Lê Đình Liệu và Vũ Văn Nghi. Người ra mẫu phải tinh tế và giàu kinh nghiệm, vì mẫu tranh không chỉ định hình bố cục mà còn quyết định cả phần chữ đề trên tranh, sao cho vừa làm rõ nghĩa vừa cân đối thị giác mà không rườm rà.
Từ mẫu gốc, thợ khắc chuyển thành bản gỗ, thường dùng gỗ thị hoặc gỗ lồng mực, sau đó in nét đen lên giấy dó bằng mực Tàu mài nguyên chất. Bản khắc chỉ giữ nhiệm vụ định hình cấu trúc, tỷ lệ nhân vật và hướng chuyển động, còn phần hồn của bức tranh vẫn đang chờ ở công đoạn sau.
Sau khi có bản in nét hoàn chỉnh, người vẽ dùng bút lông mềm bản rộng để tô màu theo kỹ thuật gọi là vờn màu. Một nửa ngọn bút chấm màu, nửa kia chấm nước lã, rồi tô chuyển từ đậm sang nhạt một cách mềm mại trên cùng một mảng màu. Nhờ cách làm này, hình khối trên tranh có chiều sâu, không bị bẹt như tranh in màu hoàn toàn bằng ván khắc.
Đậm nhạt trong tranh Hàng Trống không chỉ để cho đẹp mắt, mà còn dùng để biểu đạt vị thế và khí chất của nhân vật: một vị thần uy nghiêm sẽ được vờn màu khác với một thiếu nữ thanh tao.
Màu sắc truyền thống của tranh Hàng Trống thường giới hạn trong sáu màu chính là xanh, đỏ, cam, vàng, đen và trắng. Nguyên tắc phối màu tuân theo triết lý hài hoà giữa nóng và lạnh, ứng với quan niệm âm dương cân bằng. Đây không phải là quy tắc tùy hứng mà là cả một phản xạ nghề nghiệp được tích lũy qua hàng chục năm, đến mức chính nghệ nhân Lê Đình Nghiên cũng mô tả nó như một bản năng hình thành từ khi còn là đứa trẻ sống trong môi trường nhìn thấy tranh quanh năm.

Nghệ nhân Lê Đình Nghiêm đang làm tranh “Lý Ngư Vọng Nguyệt”
Chất liệu nền của tranh Hàng Trống là giấy dó, loại giấy làm từ vỏ cây dó, có độ bền cao và khả năng hút mực tốt (một số tài liệu còn gọi loại giấy cao cấp hơn này là giấy xuyến chỉ).
Sau khi in nét, giấy được bồi thêm một đến ba lớp, tuỳ theo yêu cầu của từng bức, để tăng độ cứng cáp và giúp tranh phẳng phiu khi treo. Chỉ khi lớp hồ bồi đã khô hoàn toàn, người thợ mới có thể tiếp tục công đoạn tô màu. Một bức tranh khổ lớn, cầu kỳ có thể mất từ ba đến bốn ngày mới hoàn thành trọn vẹn. Với những bộ tranh khổ to và dài, hai đầu tranh còn được lồng trục tre để tiện treo, một lối chơi tranh chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc.
Xét theo mục đích sử dụng, tranh Hàng Trống được chia thành hai nhóm lớn là tranh thờ và tranh chơi Tết, nhưng bên cạnh đó còn có một mảng thứ ba ít được nhắc tới hơn là tranh truyện.
Theo số liệu được VietnamPlus dẫn lại, tranh thờ chiếm khoảng 80% tổng sản lượng của dòng tranh Hàng Trống, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ và Phật giáo dân gian của người Việt.
Những bức tiêu biểu gồm: Ngũ Hổ, Bạch Hổ, Độc Hổ, Sơn Trang, Tứ Phủ Công Đồng, Mẫu Thượng Ngàn, Đức Thánh Trần, Ông Hoàng Ba, Ông Hoàng Bảy và Phật Bà Quan Âm. Trong đó, bức Tứ Phủ Công Đồng khổ 1m x 1,4m từng được giới thiệu tại một triển lãm ở Hà Nội và được ghi nhận là bức tranh dân gian có kích thước lớn nhất từng được biết đến. Người Hà Nội xưa treo tranh thờ không đơn thuần để trang trí, mà xem đó như một điểm tựa tinh thần, một cách trấn giữ và cầu an cho cả ngôi nhà.

Nhóm thứ hai phục vụ nhu cầu trang trí nhà cửa dịp Tết và thưởng lãm nghệ thuật thuần tuý, gồm:

Bên cạnh hai nhóm quen thuộc trên, tranh Hàng Trống còn có một nhánh khác gọi là tranh truyện, kể lại các tích cổ quen thuộc trong đời sống văn hoá tinh thần người Việt. Năm 2024, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam từng phối hợp với họa sĩ, nhà nghiên cứu Phan Ngọc Khuê tổ chức triển lãm Tranh Truyện Hàng Trống, giới thiệu 40 bức tranh thuộc 10 bộ tranh truyện, trong đó có các bộ Tứ Dân, Sơn Hậu, Tam Quốc và Hán Sở Tranh Hùng.
Đây là những bộ tranh truyện do chính hiệu tranh Thanh An, một hiệu tranh danh tiếng ở Hà Nội đầu thế kỷ 20, tặng lại cho họa sĩ Phan Ngọc Khuê. Bộ tranh Tứ Dân trong nhóm này khắc hoạ bốn nghề căn bản trong xã hội xưa là ngư phủ đánh cá trên sông, tiều phu đốn củi trong rừng, nông phu cày cấy trên đồng và thi nhân dùi mài kinh sử.
Vì đòi hỏi đầu tư lớn, mỗi bức tranh truyện thường phải ghép từ hai đến ba tấm ván gỗ, nên dòng tranh này gần như ngừng in từ sau năm 1945 và hiện chỉ còn tồn tại qua các bộ sưu tập cá nhân hiếm hoi.

Trong toàn bộ hệ thống tranh thờ Hàng Trống, Ngũ Hổ là bức tranh được nhắc đến nhiều nhất và cũng phức tạp nhất về mặt biểu tượng. Bức tranh khắc hoạ năm con hổ với năm tư thế và năm màu sắc khác nhau, bố trí đối xứng và xoay vòng trên cùng một mặt giấy:

Bên trái tranh có năm thanh bảo kiếm thể hiện uy lực, bên phải có năm lá cờ ngũ sắc thể hiện sự linh hoạt của thiên nhiên. Trên đầu Hoàng Hổ là hình mặt trời đỏ cùng bảy chấm trắng tượng trưng cho chòm sao Đại Hùng, gợi mở một không gian vũ trụ thu nhỏ ngay trên mặt tranh.
Một chi tiết ít người để ý nhưng lại cho thấy chiều sâu tư duy của người xưa là cách phối màu trong Ngũ Hổ Hàng Trống tuân theo quan hệ tương sinh của Ngũ Hành, khác với tranh Ngũ Hổ Đông Hồ vốn bố trí theo quan hệ tương khắc.
Sự lựa chọn tương sinh này không phải ngẫu nhiên, nó phản ánh đúng công năng của bức tranh khi treo trong không gian thờ tự, nơi người ta mong cầu sự hài hoà, hanh thông, chứ không phải xung khắc, triệt tiêu lẫn nhau.
Đây cũng là lý do tranh Ngũ Hổ Hàng Trống được xem là biểu tượng của phong thuỷ tốt lành, thường treo tại đền, phủ, miếu mạo hoặc gian thờ riêng dành cho Ngài (tức hổ thần), với ý nghĩa trấn trạch, xua đuổi tà khí và thu hút sinh khí cho gia chủ. Một trong những bản Ngũ Hổ khổ lớn còn giữ được vẻ đẹp nguyên vẹn nhất hiện vẫn được lưu giữ tại chùa làng Kim Liên, Hà Nội.
Bên cạnh Ngũ Hổ, Lý Ngư Vọng Nguyệt (tên Nôm là cá chép trông trăng) là bức tranh mang tính triết lý và thi vị bậc nhất của dòng tranh Hàng Trống. Bức tranh khắc hoạ một con cá chép đang ngước nhìn bóng trăng phản chiếu dưới mặt nước, với đường nét mềm mại và bảng màu tươi sáng đặc trưng của kỹ thuật vờn màu.

Hình tượng cá chép trong văn hoá Việt Nam gắn liền với truyền thuyết cá chép vượt Vũ Môn hoá rồng, kể về việc cá chép phải vượt qua ba đợt sóng dữ ở cửa Vũ Môn mới có thể hoá thành rồng bay lên trời. Chính vì điển tích này, cá chép được chọn làm biểu tượng cho ý chí vươn lên, kiên trì vượt qua thử thách để đạt được thành công, gần gũi với tinh thần khổ luyện của người theo nghiệp học hành, thi cử trong xã hội xưa.
Điều thú vị, và cũng là điểm khiến nhiều người yêu tranh phải dừng lại suy ngẫm, là trong Lý Ngư Vọng Nguyệt, cá chép không ngước nhìn thẳng lên vầng trăng thật trên bầu trời, mà lại cúi nhìn cái bóng trăng hắt xuống mặt nước.
Đây là một lựa chọn tạo hình có chủ đích của người vẽ, chứ không phải ngẫu nhiên, và cho đến nay vẫn là câu hỏi được nhiều người nghiên cứu và chơi tranh dân gian đặt ra, chưa có một lời giải thích thống nhất:
Vì đây là một câu hỏi mở về mặt triết lý hơn là một đáp án đóng, giá trị lớn nhất của bức tranh có lẽ nằm ở chỗ nó buộc người xem phải tự đối chiếu với chính trải nghiệm của mình, thay vì áp đặt một lời giải duy nhất.
Tứ bình là thể loại tranh trục dọc gồm bốn bức treo thành một bộ, và tranh Hàng Trống chính là nơi kỹ thuật tứ bình đạt đến độ tinh xảo cao nhất trong các dòng tranh dân gian Việt Nam.
Bộ tranh tiêu biểu nhất là Tố Nữ, khắc hoạ bốn thiếu nữ đứng uyển chuyển, mỗi người cầm một loại nhạc cụ cổ truyền, tạo thành một hoà tấu hoàn chỉnh gồm sáo trúc, đàn nguyệt, đàn tỳ bà và đàn nhị. Diện mạo các nàng tố nữ hiện lên thanh thoát với tà áo ngũ thân, tóc búi đuôi gà, mang đậm nét gia phong của người con gái kinh kỳ xưa, khác hẳn hình mẫu mỹ nhân Trung Hoa mà nhiều người vẫn lầm tưởng là nguồn gốc duy nhất của thể loại này.
Nét đặc trưng khiến tranh tứ bình Hàng Trống khác biệt so với tứ bình của các dòng tranh khác chính là kỹ thuật vờn màu độc bản đã nhắc ở phần trên, được áp dụng để tạo độ chuyển sáng tối mềm mại trên tà áo và làn da nhân vật, thay vì mảng màu phẳng như tranh in ván khắc hoàn toàn.
Ngoài Tố Nữ, tranh Hàng Trống còn có các bộ tứ bình khác như Tứ Dân (tức Ngư Tiều Canh Mục, ca ngợi bốn nghề lao động căn bản trong xã hội xưa), hay các bộ tứ bình lấy cảm hứng từ tích truyện như Truyện Kiều, Thạch Sanh, Nhị Độ Mai. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam từng tổ chức triển lãm “Sắc Xuân” qua bộ sưu tập tranh dân gian tứ bình, trưng bày 20 bộ tranh thuộc các chủ đề Tứ Quý, Tố Nữ, Tứ Dân, Bát Tiên và tranh lịch sử, cho thấy tứ bình Hàng Trống vẫn tiếp tục được xem là một trong những di sản đáng giới thiệu nhất của bảo tàng.

Không thể nói về tranh Hàng Trống hôm nay mà không nhắc đến nghệ nhân Lê Đình Nghiên, sinh năm 1950, hiện sống tại phố Cửa Đông, Hà Nội. Ông là đời thứ ba trong một gia đình có truyền thống làm tranh gốc ở làng Bình Vọng, Thường Tín, khởi đầu từ ông nội là cụ Lê Xuân Quế, tiếp nối qua cha là cụ Lê Đình Liệu, cũng là một trong những nghệ nhân ra mẫu nổi danh của dòng tranh. Ông Nghiên học vẽ từ năm 11, 12 tuổi, và trong bảy anh chị em của gia đình, chỉ duy nhất ông theo được nghề đến cùng.
Năm 1972, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mời ông về làm việc với yêu cầu duy nhất là phục chế lại số tranh Hàng Trống đang lưu trữ tại bảo tàng. Kể từ đó, ông không chỉ vẽ tranh mới mà còn gắn bó với công việc phục chế tranh cổ theo đúng mẫu xưa.
Ông từng chia sẻ rằng nghề này rất kén người, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì, khéo tay và một tình yêu thực sự với tranh, những phẩm chất không dễ tìm ở thế hệ trẻ ngày nay. Dù vậy, theo lời ông, những năm gần đây ngày càng có nhiều bạn trẻ tìm đến hỏi về tranh Hàng Trống, thậm chí có người mang tranh gia truyền cũ mờ, rách nát đến nhờ ông phục chế lại, một tín hiệu cho thấy dòng tranh vẫn còn sức sống trong lòng công chúng trẻ.

Ông Lê Đình Nghiên người nghệ nhân duy nhất nắm giữ bí quyết chế tác tranh Hàng Trống
Giai đoạn 2021 đến 2026, UBND quận Hoàn Kiếm đã trình thành phố Hà Nội chủ trương xây dựng đề án bảo tồn dòng tranh dân gian Hàng Trống gắn với việc phát huy giá trị di tích đình Nam Hương tại số 75 phố Hàng Trống, nhằm phục vụ phát triển du lịch của thủ đô song song với việc trao truyền nghề.
Trong khuôn khổ các hoạt động này, họa sĩ Nguyễn Thế Sơn, giảng viên khoa Hội hoạ Đại học Mỹ thuật Việt Nam, đã khởi xướng dự án mang tên Từ Truyền Thống Tới Truyền Thống, đưa một nhóm 26 sinh viên chuyên ngành sơn mài và lụa đến học tập trực tiếp với nghệ nhân Lê Đình Nghiên.
Sau quá trình tiếp xúc, các sinh viên đã sáng tạo những tác phẩm mới lấy cảm hứng từ tranh Hàng Trống trên chất liệu sơn mài và lụa, sau đó được trưng bày tại các di tích trong quận như đình Nam Hương, Trung tâm Giao lưu Văn hoá Phố cổ Hà Nội tại số 50 Đào Duy Từ, và Trung tâm văn hoá nghệ thuật tại 22 Hàng Buồm. Một trong những tác phẩm được chú ý là bức sơn mài Xích Hổ Tướng Quân của họa sĩ trẻ Nguyễn Thị Như Quỳnh, lấy nguyên bản nét từ tranh Hàng Trống truyền thống.
Song song đó, giới sưu tập cũng góp phần gìn giữ dòng tranh này. Nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa, Giám đốc Bảo tàng Gốm sứ Hà Nội, hiện sở hữu bộ sưu tập gồm 12 dòng tranh dân gian tiêu biểu của Việt Nam, trong đó có tranh và cả ván in tranh Hàng Trống, từng được giới thiệu tại một triển lãm chuyên đề phối hợp cùng Bảo tàng Hà Nội.
Ở một hướng tiếp cận khác, một triển lãm nghệ thuật đa phương tiện tại vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ từng ứng dụng công nghệ 3D Mapping kết hợp AI deep learning, cho phép khách tham quan nhìn thấy hình ảnh của chính mình được chuyển hoá thành nét vẽ trong một bức tranh dân gian Hàng Trống, một cách làm mới đầy bất ngờ để đưa di sản đến gần hơn với công chúng trẻ quen thuộc với công nghệ số.
Tất cả những nỗ lực này cho thấy một điều quan trọng: tranh Hàng Trống không còn chỉ được nhìn như một hiện vật bảo tàng, mà đang được kết nối lại với đời sống đương đại qua nhiều con đường khác nhau, từ giáo dục mỹ thuật, du lịch di sản, cho đến công nghệ trải nghiệm.

Để dễ hình dung sự khác biệt đã phân tích ở các phần trên, bảng dưới đây tổng hợp lại những tiêu chí quan trọng nhất giữa hai dòng tranh dân gian tiêu biểu của miền Bắc.
| Tiêu chí | Tranh Hàng Trống | Tranh Đông Hồ |
| Nơi hình thành | Phố cổ Hà Nội, môi trường thị dân | Làng Đông Hồ, môi trường nông thôn |
| Kỹ thuật tạo hình | In nét bằng ván khắc, tô màu hoàn toàn bằng tay | In cả nét lẫn màu bằng ván khắc |
| Tính độc bản | Mỗi bức có sắc độ và thần thái riêng | Các bản in giống nhau về màu sắc |
| Chất liệu nền | Giấy dó bồi dày nhiều lớp | Giấy điệp phủ bột vỏ sò |
| Bảng màu | Sáu màu chủ đạo, chuyển sắc mềm mại | Màu tự nhiên, mảng màu phẳng, tương phản mạnh |
| Đề tài chủ đạo | Nghiêng về tranh thờ, chiếm khoảng 80% sản lượng | Nghiêng về tranh sinh hoạt, chúc tụng nông nghiệp |
| Ngũ Hổ phối màu theo | Quan hệ tương sinh của Ngũ Hành | Quan hệ tương khắc của Ngũ Hành |
| Cảm giác thị giác | Uyển chuyển, tinh tế, trang nghiêm | Mộc mạc, khoẻ khoắn, tươi vui |
| Nghệ nhân tiêu biểu còn lại | Lê Đình Nghiên | Dòng họ Nguyễn Đăng, làng Đông Hồ |
Tranh Hàng Trống không đơn thuần là một dòng tranh dân gian đẹp về màu sắc. Đó là kết tinh của một cách sống, cách nghĩ và cách nhìn thế giới của người kinh kỳ xưa, nơi mỗi nét vờn màu, mỗi cách sắp đặt Ngũ Hành hay mỗi ánh mắt cá chép soi trăng đều mang một tầng nghĩa riêng, chờ người xem đủ kiên nhẫn để nhận ra.
Và như những dự án bảo tồn đang diễn ra tại Hà Nội cho thấy, câu chuyện của dòng tranh này vẫn chưa khép lại, nó đang được viết tiếp bởi một thế hệ nghệ sĩ trẻ dám đặt di sản cũ vào những chất liệu và công nghệ hoàn toàn mới. Hiểu tranh Hàng Trống theo cách đó, bạn sẽ không còn nhìn nó như một món đồ trang trí xưa cũ, mà như một hệ thống tư duy thẩm mỹ vẫn còn nguyên giá trị để học hỏi cho đến hôm nay.
Không một rào cản nào có thể ngăn chúng ta chinh phục ước mơ của chính mình. Hãy để Bụi giúp bạn rút ngắn con đường chạm đến đam mê hội họa nhé!
Đăng ký khóa học để nhận ngay ưu đãi hấp dẫn trong hôm nay nha bạn ơi!
10/07/2017
07/02/2017
23/04/2017
21/11/2021