Tranh Kim Hoàng – Hồi sinh dòng tranh tết từng thất truyền 7 thập kỷ

Nhắc đến tranh Tết dân gian miền Bắc, người ta thường nhớ ngay đến sắc điệp mộc mạc của tranh Đông Hồ hay nét vẽ thanh nhã của tranh Hàng Trống xứ Kinh Kỳ. Thế nhưng, ít ai biết rằng còn một dòng tranh thứ ba, từng quẩy gánh đi khắp xứ Đoài và tạo nên “Bộ ba” dòng tranh Tết nức tiếng nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa. Đó chính là Tranh Kim Hoàng.

Trải qua bao thăng trầm biến động, có lúc tưởng như đã hoàn toàn “hóa thạch” và chìm vào quên lãng sau những thảm kịch của lịch sử, dòng tranh đỏ độc đáo này đang hồi sinh mạnh mẽ, khẳng định lại vị thế và nét thẩm mỹ riêng biệt của mình trong đời sống đương đại.

Tranh Kim Hoàng là gì?

Tranh Kim Hoàng là tên gọi của một dòng tranh dân gian độc đáo, phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XVIII – XIX tại làng Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội). Đây là dòng tranh Tết đặc sắc được tạo nên từ sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật in ván khắc gỗ cùng tài nghệ tô màu vẽ tay thủ công phóng khoáng của người nghệ nhân.

Điểm nhận diện đặc trưng nhất khiến tác phẩm không thể trộn lẫn với bất kỳ di sản nào khác chính là sắc diện của màu nền. Thay vì để mộc màu giấy dó hay quét lớp bột vỏ điệp óng ánh, toàn bộ giấy vẽ tranh Kim Hoàng đều được nhuộm các sắc độ rực rỡ như đỏ cam, hồng điều, đỏ son hay vàng yến. Chính vì sắc nền bừng sáng mang đầy hỷ khí này, dân gian đã đặt cho dòng tranh một cái tên vô cùng thân thương là Tranh Đỏ.

Không chỉ dùng để trang hoàng nhà cửa dịp đầu xuân, cầu chúc một năm mới an khang thịnh vượng, tranh Kim Hoàng còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, được người xưa xem như một lá bùa tinh thần giúp trấn trạch, xua đuổi tà ma và những điều không may mắn.

Tranh cặp "Tiến Tài - Tiến Lộc"

Nguồn gốc hình thành và thăng trầm của “phường tranh” làng cổ

Về mặt địa danh, làng cổ Kim Hoàng được thành lập từ cuối thế kỷ XVI dựa trên sự sáp nhập của hai làng cổ là Kim Bảng và Hoàng Bảng. Nằm trên mảnh đất văn hiến vùng ven kinh thành Thăng Long, dòng tranh dân gian Kim Hoàng chính thức định hình và phát triển mạnh mẽ vào khoảng nửa sau thế kỷ XVIII.

Theo các tài liệu ghi chép và lời kể từ các cụ cao tuổi trong làng, dòng tranh này do ông Nguyễn Sỹ – một người từ Thanh Hóa ra Thăng Long lập nghiệp sáng tạo ra, với mong muốn có một dòng tranh mới phù hợp với người nông dân cả về thẩm mỹ lẫn túi tiền. Dần dần, hai dòng họ lớn là Nguyễn Sĩ và Nguyễn Thế đã đi đầu trong việc tổ chức thành một “phường tranh” quy tụ cả làng tham gia.

Những ngày giáp Tết xưa, không khí làm tranh nhộn nhịp khắp các ngõ xóm. Mọi người tất bật làm ngày làm đêm, tối đến lại chong đèn ba dây mà chấm phẩm. Tranh làm xong được mang đi bán tại các phiên chợ vùng ven như chợ Sấu Giá, chợ Sơn Đồng, chợ Chùa Thầy, chợ Canh, chợ Diễn… Từ sáng sớm, các gia đình đã cử người đến chợ để “bỏ que giữ chỗ”, chờ sáng hẳn mới quẩy tranh đến mở sạp bán lẻ trực tiếp. Những năm phát đạt, người Kim Hoàng đi chợ bán tranh về gánh được cả một gánh tiền Tự Đức nặng.

Triển lãm không gian tranh bộ Kim Hoàng

Biến động lịch sử và hành trình hồi sinh từ đống tro tàn

Dù từng có giai đoạn phát triển rực rỡ, dòng chảy lịch sử của làng nghề đã phải trải qua những đứt gãy vô cùng nghiêm trọng bởi thiên tai và thời cuộc:

  • Thảm kịch năm 1915: Trận lụt lịch sử do vỡ đê Liên Mạc (Hoàng Mạc) đã làm ngập toàn bộ làng nghề. Dòng nước lũ cuốn trôi và tiêu hủy phần lớn các ván khắc gỗ cổ lưu truyền nhiều đời – vốn được coi là linh hồn của nghề làm tranh.
  • Sự mai một và thất truyền: Đến năm 1945, trước những tác động khốc liệt của chiến tranh cùng sự thay đổi trong thị hiếu, làng nghề hoàn toàn ngưng sản xuất. Cho đến khoảng cuối những năm 50 của thế kỷ trước, phong trào chống mê tín dị đoan đã dẫn đến việc các ván in cổ ít ỏi còn sót lại bị chẻ làm củi. Sắc đỏ xứ Đoài chính thức biến mất suốt 7 thập kỷ.

Mãi đến cuối năm 2015, dự án “Phục hồi tranh Kim Hoàng” chính thức được khởi xướng dưới sự chủ trì của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hòa (Giám đốc Bảo tàng Gốm sứ Hà Nội). Bà đã tập hợp một ê-kíp lớn gồm các chuyên gia hàng đầu như họa sĩ Nguyễn Đức Hòa (người đục mộc bản), nhà thư pháp Lê Quốc Việt, nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế… Nhóm đã lặn lội tìm kiếm, đối chiếu các mẫu tranh màu cổ trong bộ sưu tập 58 bức quý giá lưu giữ tại Viện Viễn Đông Bác cổ (Pháp).

“Nói thì hay như vậy, nhưng khó và mệt lắm” – Bà Hòa chia sẻ. Trong những ngày đầu thử nghiệm nhuộm tranh, nhóm đã làm hỏng hơn 700 tờ giấy dó do giấy bị cong vênh, không thể làm phẳng được. Phải đến khi tìm gặp và được nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế (làng tranh Đông Hồ) giải đáp tỉ mỉ, học bí quyết dùng chổi thông quét nhanh tay hỗn hợp phẩm hòa với hồ lên tấm bìa carton rồi phơi vào ngày nắng nhẹ, nhóm mới thành công giúp màu lên tươi và phẳng phiu.

Nghệ nhân phục dựng tranh đỏ Kim Hoàng

Kỹ thuật chế tác làm nên tính độc bản của tranh Kim Hoàng

Sự đắt giá của một bức tranh Kim Hoàng nằm ở quy trình chế tác thủ công nghiêm ngặt kết hợp với tính ngẫu hứng tối đa của nghệ nhân thông qua phương pháp bán in bán vẽ.

Sắc nền nhuộm từ cỏ cây thiên nhiên

Nghệ nhân dùng loại giấy dó thô, tự tay nhuộm toàn bộ bề mặt bằng màu hồng điều nấu từ gỗ cây vang để tạo nên loại giấy tàu vang ấm áp, hoặc màu vàng sắc từ củ nghệ và hạt dành dành để tạo ra giấy đại hoàng. Sắc nền đậm đà này giúp tôn vinh các mảng màu vẽ tay lên một cung bậc rực rỡ nhất.

Công đoạn tô màu tranh Môn Thần

Kỹ thuật in ngửa ván độc đáo

Khác với quy trình in chồng nhiều bản màu của tranh Đông Hồ, tranh Kim Hoàng chỉ sử dụng một bản khắc duy nhất từ gỗ thị hoặc gỗ mực để định hình đường viền đen bằng mực tàu. Người thợ đặt ngửa ván khắc lên mặt bàn, quét mực lên các đường nét nổi rồi đặt tờ giấy nhuộm màu lên trên, sau đó dùng xơ mướp khô xoa đều để mực thấm sâu vào thớ giấy.

Mộc bản gỗ của dòng tranh kim hoàng

Nét cọ vẽ tay tự do

Sau khi bản nét đen đã khô, công đoạn hoàn thiện màu sắc được thực hiện hoàn toàn bằng tay. Nghệ nhân sử dụng màu bột pha với keo da trâu để tô vào các khoảng trống. Vì không bị gò bó bởi các khuôn màu cố định, người thợ tự do điều phối độ đậm nhạt của vệt cọ theo cảm xúc cá nhân. Do đó, cùng một bản khắc nhưng hai bức tranh khác nhau sẽ mang những thần thái hoàn toàn riêng biệt. Sự tỉ mỉ trong việc xử lý màu thô mộc này cũng là nét tương đồng lớn với dòng chảy nghệ thuật Sơn mài – Dòng tranh truyền thống và đặc sắc của Việt Nam.

Sự khác biệt giữa tranh Kim Hoàn, Đông Hồ và Hàng Trống

Tiêu chí Tranh Kim Hoàng Tranh Đông Hồ Tranh Hàng Trống
Địa bàn Làng Kim Hoàng (Hoài Đức, Hà Nội) Làng Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) Phố Hàng Trống (Thăng Long – Hà Nội)
Chất liệu giấy Giấy đỏ / giấy hồng điều (giấy dó nhuộm màu tàu vang hoặc vàng đại hoàng) Giấy điệp (giấy dó quét lớp bột vỏ điệp óng ánh) Giấy dó loại dày hoặc giấy bồi nhiều lớp
Kỹ thuật Bán in bán vẽ: In ngửa ván lấy nét mờ (in nhá), tô màu thủ công bằng tay với keo da trâu rồi in lại lần hai (in đồ) bằng xơ mướp khô ➔ Mỗi bức là một độc bản. Thuần in ấn: In hoàn toàn bằng hệ thống ván khắc gỗ, mỗi màu sắc sử dụng một ván màu riêng biệt ➔ Tính sản xuất hàng loạt cao. In nét – Vẽ tay: In nét đen bằng ván gỗ, sau đó dùng cọ ẩm vẽ tay toàn bộ màu sắc, vờn màu loang nhạt mềm mại ➔ Tính hội họa và học thuật cao.
Phong cách & Màu sắc Màu nền đỏ rực rỡ, hình tượng cách điệu mang tính ước lệ cao, đường nét tinh tế và đanh nhỏ. Mộc mạc, bình dị, vui nhộn, gắn liền với tâm lý làng quê nông nghiệp với tông màu trầm tự nhiên. Tinh tế, cầu kỳ, giàu chi tiết, sử dụng phẩm màu tươi sáng (có cả phẩm Tây), mang phong cách thị dân, cung đình.
Chủ đề chính Tranh Tết, linh vật (Thần Kê, lợn độc sắc), tranh chữ Hán, bùa trấn trạch và tranh thờ Sinh hoạt nông thôn, châm biếm xã hội, tranh Tết (“Đám cưới chuột”, “Vinh hoa phú quý”) Tranh thờ Phật, Thánh, Tam Phủ – Tứ Phủ, tín ngưỡng tôn giáo, tranh Tố Nữ
Vị thế hiện nay Từng thất truyền 70 năm, nay đang được khôi phục mạnh mẽ bởi các nghệ nhân, nhà nghiên cứu và dự án văn hóa đương đại. Nổi tiếng nhất, được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, được UNESCO ghi nhận. Hiếm, ít người làm, chủ yếu còn được lưu giữ trong các bảo tàng và giới sưu tầm cổ vật.

Xem thêm: Tranh Tứ bình là gì? Ý nghĩa và quy luật treo bộ tranh Tứ bình chuẩn

Ý nghĩa biểu tượng sâu xa trong tranh Kim Hoàng cổ

Tranh gà Thần Kê uy phong với chức năng trấn trạch

Bức tranh Gà Thần hay còn gọi là Thần Kê là đỉnh cao đồ họa của dòng tranh này. Con gà đứng hiên ngang với phần đuôi được vuốt một nét mực tàu bản lớn cực kỳ dứt khoát như nét viết chữ thảo trong thư pháp.

Điểm đặc biệt nằm ở bài thơ viết bằng chữ Hán trên mặt tranh. Đây không phải là lời đề tặng thông thường mà là một lời bùa chúc tụng mang ý nghĩa tâm linh và trấn trạch mạnh mẽ, nhắc nhở rằng con gà thần mang trong mình đầy đủ 5 đức tính cao quý của người quân tử là Văn, Vũ, Dũng, Nhân, Tín.

Người xưa tin rằng mỗi tiếng gà gáy sáng là một khắc báo hiệu điềm lành lớn, giúp xua tan bóng tối, trấn trạch trừ tà và bảo vệ bình an cho gia chủ.

Tranh Gà tịch tà (Thần kê)

Tranh Lợn Đỏ với chiếc mũi hình đám mây cổ

Trái ngược với con lợn Đông Hồ luôn sở hữu những vòng xoáy âm dương tròn trịa trên mình, lợn Kim Hoàng hoàn toàn trơn mộc. Nghệ nhân đã khéo léo cách điệu chiếc mũi lợn thành hình một đám mây cổ, hay còn gọi là họa tiết tường vân thường thấy trong nghệ thuật cung đình. Chi tiết mỹ thuật này vừa khiến con vật trở nên ngộ nghĩnh, sinh động, vừa mang lời cầu mong mây mưa thuận hòa, cuộc sống no đủ cho người nông dân.

Tranh Lợn độc bản Kim Hoàng

Tranh thờ mang sắc thái tâm linh trang nghiêm

Bao gồm các mẫu tranh thờ như tranh Thần độ mạng, tranh Đức Thánh Trần, tranh ông Công ông Táo. Điểm đặc trưng của nhóm tranh này là cấu trúc bố cục đối xứng nghiêm ngặt qua trục tâm. Hệ màu sắc được tiết chế lại, tăng cường các nét mực đen để tạo không khí trang nghiêm, phù hợp cho không gian thờ cúng của gia đình.

Tranh cặp Môn Thần (Thần giữ cửa)

Tranh chúc tụng và sinh hoạt nông thôn

Khai thác các chữ đại tự (Phúc, Lộc, Thọ) kết hợp với hình vẽ các tích truyện dân gian hoặc cảnh sinh hoạt chăn nuôi, cày cấy. Nhóm đề tài này ghi lại một cách trung thực ước vọng bình dị của người nông dân về một cuộc sống mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Tranh "Hà trì hạ thưởng" (Vui chơi hồ sen)

Giá trị cốt lõi tạo nên vị thế của tranh Kim Hoàng

Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu mỹ thuật quyết tâm vực dậy dòng tranh này. Bản thân mỗi bức tranh Kim Hoàng luôn mang trong mình hai giá trị nền tảng vô giá.

  • Tư duy xử lý màu sắc dân gian điệu nghệ: Nếu nhìn kỹ, bạn sẽ thấy nghệ nhân đặt các mảng màu nguyên chất như xanh lá, vàng, trắng trực tiếp cạnh nhau trên một nền giấy đỏ có độ rực rất mạnh. Cách phối màu này rất dễ gây hoa mắt nếu không khéo, nhưng tranh Kim Hoàng lại tạo ra hiệu ứng vui tươi, ấm áp mà không hề bị lòe loẹt. Bí quyết nằm ở các đường nét viền đen của mực tàu đã làm tròn vai trò kiềm chế và cân bằng lại thị giác cho toàn bộ bức tranh.
  • Tấm gương phản chiếu lịch sử và tâm hồn người xưa: Hệ thống biểu tượng nông nghiệp kết hợp với ngôn ngữ chữ viết Hán in trên tranh chính là những dữ liệu sống động nhất. Nhìn vào đó, thế hệ ngày nay có thể đọc được tư tưởng, niềm tin tâm linh cũng như gu thẩm mỹ riêng biệt của cộng đồng cư dân vùng ven đô Thăng Long qua nhiều thế kỷ phong kiến.

 

Xem thêm: Những tác phẩm hội họa mang giá trị lịch sử to lớn của Việt Nam

 

Sắc đỏ Kim Hoàng trong đời sống ngày nay

Không còn bó hẹp trong không gian làng xã hay nằm im lìm trong tủ kính bảo tàng, tranh Kim Hoàng giờ đây đã tìm được chỗ đứng quen thuộc trong đời sống hiện đại. Các họa tiết cổ như Gà Thần, Lợn Đỏ đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho giới thiết kế đồ họa trẻ tuổi, xuất hiện duyên dáng trên các tà áo dài thời trang, các bao bì quà tặng văn hóa hay các sản phẩm lịch Xuân sáng tạo.

Tại Hà Nội, nhiều bạn trẻ và du khách quốc tế thường xuyên tham gia các buổi workshop tự tay in ấn và tô màu tranh đỏ tại các không gian di sản lớn như Văn Miếu – Quốc Tử Giám hay Phố cổ Hà Nội.

Khi bài trí và lưu giữ tranh tại nhà, người chơi tranh cần lưu ý rằng vì tranh được vẽ bằng màu bột tự nhiên pha keo da trâu nên rất nhạy cảm với thời tiết nồm ẩm đặc trưng của miền Bắc. Bạn nên lồng kính hoặc đóng khung có mặt sau chống ẩm để giữ cho màu sắc của bức tranh luôn tươi mới.

Để tìm mua những bức tranh chính gốc hoặc tham quan xưởng chế tác, bạn có thể ghé thăm Đình làng Kim Hoàng tại xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Đây là nơi làm việc trực tiếp của nghệ nhân Đào Đình Chung. Các bức tranh thành phẩm tại đây có giá bán dao động từ 150.000 VNĐ đến 500.000 VNĐ một bức tùy thuộc vào kích thước và chất liệu khung đi kèm.

Lời kết

Tranh dân gian Kim Hoàng không đơn thuần là một món đồ trang trí ngày Tết đã từng bị lãng quên, mà là minh chứng sống động cho sức sống mãnh liệt của cội nguồn văn hóa Việt. Vượt qua những thăng trầm của thiên tai và thời gian, sắc đỏ hồng điều ấm áp ấy vẫn bừng sáng, những nét cọ tô tay ấy vẫn giữ vẹn nguyên sự ngẫu hứng tự do. Việc trân trọng và đưa tranh đỏ vào không gian sống hiện đại chính là cách chúng ta cùng nhau nối dài mạch ngầm di sản vô giá của cha ông đến mai sau.

Câu hỏi thường gặp về tranh dân gian Kim Hoàng

Tranh Kim Hoàng có nguồn gốc từ đâu và ra đời khi nào?

Tranh Kim Hoàng có nguồn gốc từ làng cổ Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, thuộc vùng đất xứ Đoài xưa. Dòng tranh dân gian này chính thức định hình và phát triển mạnh mẽ vào khoảng nửa sau thế kỷ XVIII, sau đó đạt đến giai đoạn đỉnh cao vào thế kỷ XIX.

Tại sao tranh Kim Hoàng lại được gọi là “tranh đỏ”?

Tên gọi này bắt nguồn từ màu sắc đặc trưng của chất liệu giấy nền. Không giống các dòng tranh khác, tranh Kim Hoàng sử dụng giấy dó thô được nhuộm màu rực rỡ làm nền, chủ yếu là màu hồng điều hoặc đỏ cam nấu từ gỗ cây vang (gọi là giấy tàu vang), cùng với màu vàng chiết xuất từ nghệ, hoa hòe hoặc hạt dành dành. Sắc đỏ đậm đà này vừa mang lại không khí ấm áp, may mắn của ngày Tết, vừa trở thành dấu ấn định danh riêng biệt cho dòng “tranh đỏ”.

Kỹ thuật làm tranh Kim Hoàng khác gì tranh Đông Hồ và Hàng Trống?

Điểm khác biệt nằm ở phương thức xử lý màu sắc và đường nét giữa các dòng tranh. Trong khi tranh Đông Hồ được in hoàn toàn bằng hệ thống ván khắc màu chồng lên nhau và tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật vờn màu loang nhạt bằng cọ mềm sau khi in nét, thì tranh Kim Hoàng lại đi theo lối đi riêng độc bản. Nghệ nhân Kim Hoàng áp dụng kỹ thuật bán in bán vẽ, chỉ dùng một bản khắc duy nhất để in ngửa lấy nét viền đen bằng mực tàu, sau đó tự tay tô màu thủ công vào các khoảng trống, tạo nên tính ngẫu hứng đầy phóng khoáng cho từng tác phẩm.

Lý do gì khiến tranh Kim Hoàng từng bị thất truyền?

Dòng tranh này từng chịu hai đứt gãy lớn trong lịch sử dẫn đến việc bị thất truyền suốt 7 thập kỷ. Đầu tiên là trận lụt lớn do vỡ đê Liên Mạc năm 1915 làm ngập toàn bộ làng nghề, cuốn trôi và tiêu hủy phần lớn các ván khắc gỗ cổ lưu truyền nhiều đời. Đến năm 1945, trước những tác động khốc liệt của chiến tranh và sự thay đổi trong thị hiếu chơi tranh Tết của người dân, làng nghề hoàn toàn ngưng sản xuất, cho đến khi được nghiên cứu và phục dựng lại vào năm 2015.

Chữ viết xuất hiện trên tranh Kim Hoàng là chữ gì?

Toàn bộ chữ viết xuất hiện trên các bức tranh cổ Kim Hoàng đều là chữ Hán được viết theo lối chữ thảo đầy tinh tế và tự do. Đây là đặc điểm độc đáo minh chứng cho sự giao thoa sâu sắc giữa mỹ thuật dân gian và thị hiếu của giới trí thức Nho học xưa, vừa dùng để đề thơ chúc tụng, vừa làm tăng tính trang nghiêm và giá trị tâm linh cho tác phẩm.

Cách phân biệt tranh lợn Kim Hoàng và tranh lợn Đông Hồ?

Bạn có thể dễ dàng phân biệt hai dòng tranh này dựa vào họa tiết trang trí trên mình con vật và đặc điểm nét vẽ. Tranh lợn Đông Hồ luôn có các vòng xoáy âm dương được vẽ tròn trịa, rõ ràng để trang trí trên lưng và mông con lợn. Ngược lại, tranh lợn Kim Hoàng hoàn toàn không có xoáy âm dương, con vật được cách điệu ngộ nhìn bằng những nét vẽ phóng túng, uốn lượn tự nhiên với phần mũi lợn được uốn mềm mại như hình đám mây cổ (họa tiết tường vân).

Tags:

Không một rào cản nào có thể ngăn chúng ta chinh phục ước mơ của chính mình. Hãy để Bụi giúp bạn rút ngắn con đường chạm đến đam mê hội họa nhé!

Đăng ký khóa học để nhận ngay ưu đãi hấp dẫn trong hôm nay nha bạn ơi!