Tầm vóc hội họa giao thoa Á Âu của cây đại thụ Vũ Cao Đàm

Họa sĩ, nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm (1908 – 2000) được vinh danh là một trong ‘Tứ kiệt trời Âu’ của nền hội họa Việt Nam đương đại, bên cạnh Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Lê Thị Lựu. Vốn xuất thân từ khoa Điêu khắc thuộc thế hệ sinh viên đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương, ông là một trong những người tiên phong kiến tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật độc bản. Bằng cách dung hòa kỹ thuật tạo hình và trường phái Ấn tượng phương Tây với triết lý, cốt cách lãng mạn của phương Đông, những tác phẩm của Vũ Cao Đàm đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành di sản nghệ thuật được giới sưu tập toàn cầu săn đón.

Tiểu sử cuộc đời họa sĩ Vũ Cao Đàm

Họa sĩ Vũ Cao Đàm sinh ngày 08/01/1908 tại Hà Nội, quê gốc ở làng Trình Xuyên, Vụ Bản, Nam Định. Ông xuất thân trong một gia đình trí thức Công giáo nền nếp có 14 người con. Thân phụ ông là cụ Vũ Đình Thi, một người vô cùng am tường văn hóa nghệ thuật. Anh em ruột của ông sau này đều là những trí thức lớn của đất nước như bác sĩ Vũ Đình Tụng hay dược sĩ Vũ Công Thuyết. Chính nền tảng gia đình uyên bác này đã hun đúc nên một Vũ Cao Đàm với tư duy nghệ thuật điềm tĩnh, sâu sắc và luôn hướng về cội nguồn dân tộc.

Chân dung họa sĩ Vũ Cao Đàm

Năm 1926, ông thi đỗ Khóa II Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine). Thoạt đầu, ông theo học cả hội họa và điêu khắc. Bước ngoặt cuộc đời đến khi ông nặn bức tượng bán thân của cha mình. Hiệu trưởng Victor Tardieu khi nhìn thấy tác phẩm đã kinh ngạc trước khả năng nắm bắt hình khối thiên bẩm của cậu học trò và khuyên ông chuyển hẳn sang khoa Điêu khắc.

Dưới sự dìu dắt tận tình của giáo sư Inguimberty và thầy Tardieu, Vũ Cao Đàm tốt nghiệp thủ khoa Điêu khắc vào năm 1931 với thành tích xuất sắc, giành học bổng sang Pháp tu nghiệp tại Bảo tàng Louvre danh giá. Năm 1938, ông kết hôn với nghệ sĩ dương cầm người Pháp Renée Appriou, chính thức gắn bó phần đời còn lại tại châu Âu, nhưng ngòi bút và tâm hồn ông chưa bao giờ thôi khắc khoải về cố hương.

Khúc biến tấu vĩ đại giữa ba chất liệu trong sự nghiệp sáng tạo

Sự nghiệp của Vũ Cao Đàm là minh chứng sống động cho một người nghệ sĩ không bao giờ chịu khuất phục trước nghịch cảnh lịch sử, luôn khao khát tự do để bứt phá khỏi giới hạn của chất liệu.

Thời kỳ hoàng kim của Điêu khắc (1926 – 1939)

Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, Vũ Cao Đàm là một tài năng điêu khắc kiệt xuất của Trường Mỹ thuật Đông Dương và gặt hái vô số thành công tại Paris. Chịu ảnh hưởng từ bậc thầy điêu khắc Pháp Auguste Rodin, các tác phẩm bằng đồng của ông đạt độ chuẩn xác tuyệt đối về giải phẫu học phương Tây nhưng lại mang thần thái vô cùng mềm mại, e ấp của phương Đông.

Tuy nhiên, khi Thế chiến thứ hai bùng nổ (1939), quân đội Đức Quốc xã cấm đổ khuôn đồng để phục vụ sản xuất vũ khí. Sự thiếu thốn vật liệu khắt khe này đã buộc Vũ Cao Đàm phải tạm gác lại đam mê đúc đồng, chuyển sang nặn tượng đất nung (terracotta) và bắt đầu một bước rẽ lịch sử sang hội họa.

Bước ngoặt Tranh lụa thời chiến và Bức tượng lịch sử (1939 – 1950)

Không thể tiếp tục đúc tượng đồng, Vũ Cao Đàm tìm đến tranh lụa và lập tức tạo ra một cuộc cách mạng cho chất liệu này trong suốt thập niên 1940. Nhận thấy điểm yếu của tranh lụa Á Đông là tính phẳng lỳ, ông đã táo bạo ứng dụng kỹ thuật sáng – tối (Chiaroscuro) của nghệ thuật Phục Hưng vào lụa, tạo ra không gian ba chiều sống động. Giới học thuật Pháp từng thán phục ví von những bức chân dung thiếu nữ Bắc Bộ của ông như “La Joconde của Việt Nam”.

Đáng chú ý, trong giai đoạn giao thoa này, lịch sử đã ghi nhận một ngoại lệ vĩ đại vào năm 1946. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, Vũ Cao Đàm đã vinh dự được trực tiếp tạc tượng bán thân của Người. Tác phẩm xuất thần này không chỉ là một di sản lịch sử mà còn được xem là dự án điêu khắc lớn cuối cùng, khép lại chặng đường trọn vẹn của ông với nghệ thuật hình khối.

Tác phẩm tranh lụa "Thiếu nữ mặc áo xanh trong phong cảnh"

Tác phẩm “Jeune femme en bleu dans un paysage” Thiếu nữ mặc áo xanh trong phong cảnh, Vũ Cao Đàm

Sự thăng hoa trọn vẹn cùng Sơn dầu (Từ năm 1950 đến cuối đời)

Năm 1950, do mắc chứng hen suyễn, Vũ Cao Đàm rời Paris ngột ngạt để chuyển xuống miền Nam nước Pháp, định cư tại làng hội họa Saint-Paul de Vence. Khí hậu ấm áp và ánh sáng rực rỡ của vùng Địa Trung Hải đã hoàn toàn “cởi trói” cho bảng màu của ông.

Nhận thấy lụa không còn đủ để biểu đạt những cảm xúc mãnh liệt mới, ông chuyển hẳn sang vẽ sơn dầu. Bước đi này không chỉ mở ra thời kỳ rực rỡ nhất trong nghệ thuật của ông mà còn đưa ông đến bản hợp đồng hợp tác kéo dài 25 năm (từ 1964) với Galerie Wally Findlay (Mỹ), chính thức đưa tranh Vũ Cao Đàm vươn tầm thế giới.

Bức tranh sơn dầu trên ván "Mẫu Tử", 1956, Vũ Cao Đàm

Bức tranh sơn dầu trên ván “Mẫu Tử”, 1956, Vũ Cao Đàm

Những kỷ lục trên thị trường đấu giá quốc tế khẳng định vị thế triệu đô

Ngày nay, các tác phẩm của Vũ Cao Đàm không chỉ mang giá trị học thuật vô giá mà còn là những tài sản được giới tinh hoa săn lùng ráo riết tại các nhà đấu giá lớn như Sotheby’s hay Christie’s:

  • Bức “Quý bà đang ngồi” (Portrait of a young girl / Seated Lady): Sáng tác khoảng 1935-1940 bằng chất liệu mực và bột màu trên lụa. Được gõ búa tại Sotheby’s Hồng Kông (10/2022) với giá 5.040.000 HKD (khoảng 650.000 USD).
  • Bức “Deux Femmes” (Hai người phụ nữ): Một tuyệt tác trên lụa đạt mức giá 4.032.000 HKD (khoảng 510.000 USD) tại Sotheby’s Hồng Kông (04/2021).
  • Bức sơn dầu “Property of a lady of title”: Từng được trưng bày tại London năm 1960. Tác phẩm này đã thu về 45.000 bảng Anh (khoảng 1,55 tỷ đồng) tại phiên đấu giá của Sloane Street Auctions vào đầu tháng 5/2024.

Giải mã phong cách nghệ thuật: “Màu xanh Cao Đàm” và tính thiền

Nếu Mai Trung Thứ hay Lê Phổ thường chinh phục công chúng bằng sự đài các, lãng mạn dễ chiều lòng thị hiếu đương thời, thì Vũ Cao Đàm lại thuộc tuýp nghệ sĩ đi sâu vào thế giới nội tâm.

  • Cấu trúc hình khối vững chãi: Dấu ấn của một nhà điêu khắc thủ khoa in hằn rõ nét trên mặt tranh hội họa. Nhân vật trong tranh Vũ Cao Đàm luôn có sự vững chãi về mặt giải phẫu cơ thể, như chực chờ bước ra khỏi khung buồm.
  • “Màu xanh Cao Đàm” huyền thoại: Tại Saint-Paul de Vence, ông đã sáng tạo ra một dải sắc xanh ngọc bích tuyệt mỹ – sự giao hòa giữa bầu trời cao vợi và mặt nước Địa Trung Hải. Sắc xanh này mang tính Thiền sâu sắc, thường đi vào những bức tượng Phật trên tòa sen trắng, mang ánh sáng Như Lai dẫn dụ người xem về chốn tịnh tâm.
  • Chủ đề hướng về cội nguồn: Dù sống cả đời ở trời Tây, hội họa của ông lại là hành trình tìm về phương Đông. Ông mượn các tích Truyện Kiều (Nguyễn Du), kinh Phật, cảnh sinh hoạt dân gian (hát ả đào), tình mẫu tử để xoa dịu nỗi nhớ cố hương.

Những kiệt tác nổi tiếng làm nên tên tuổi Vũ Cao Đàm trên thị trường quốc tế

Khác với sự khép kín lúc sinh thời, ngày nay, các tác phẩm của Vũ Cao Đàm luôn là tâm điểm săn đón tại các nhà đấu giá quốc tế danh giá như Sotheby’s, Christie’s, Aguttes với mức giá lên tới hàng triệu USD. Dưới đây là những kiệt tác làm nên tên tuổi của ông:

Tác phẩm điêu khắc Thiếu nữ cài lược (~1927)

Tác phẩm phô diễn kỹ thuật tạo hình hoàn hảo. Khuôn mặt thiếu nữ được tạo hình với tỷ lệ vàng, ánh mắt nhìn xuống đầy tư lự cùng mái tóc vấn cao. Phiên bản thạch cao của tác phẩm này luôn là bài học kinh điển, không thể thiếu trong các lớp hình họa tại Việt Nam.

Tác phẩm điêu khắc Thiếu nữ cài lược

Tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946)

Đây là điểm giao thoa giữa nghệ thuật và lịch sử. Bức tượng lột tả xuất thần vầng trán cao rộng cùng đôi mắt sáng tinh anh của vị lãnh tụ. Lối tạo khối chắc khỏe ở phần bả vai tương phản với nét vờn mềm mại trên khuôn mặt, tạo nên một tổng thể uy nghi nhưng vô cùng dung dị.

Tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tranh lụa Hai người phụ nữ (Deux Femmes, thập niên 1940)

Khác với những mảng màu bẹt (phẳng) mang tính trang trí của các bạn đồng môn, Vũ Cao Đàm táo bạo dùng kỹ thuật sáng – tối (Chiaroscuro) để hắt ánh sáng trực diện vào nhân vật. Bức tranh tạo ra không gian ba chiều có chiều sâu thị giác mạnh mẽ trên lụa, khơi gợi vẻ đẹp đài các, u tịch và nội tâm sâu thẳm của người phụ nữ Việt.

Tranh lụa "Hai người phụ nữ (Deux Femmes)"

Tranh lụa Hát cô đầu (1941)

Một tư liệu văn hóa vô giá tái hiện lại không gian thính phòng Ả đào đặc trưng của miền Bắc. Ánh sáng vàng ấm hắt lên mảng tường và trang phục ca nương tạo ra một không khí ấm cúng, vang vọng nỗi nhớ quê hương da diết.

Tranh lụa Hát cô đầu (1941)

Tranh lụa Mơ mộng (Le Rêve, thập niên 1940)

Bức tranh tả cảnh thiếu nữ chìm trong làn sương mờ ảo. Nhờ kỹ thuật bồi lụa trên ván ép độc quyền, tác phẩm lột tả trọn vẹn thế giới nội tâm lãng mạn, bay bổng của nhân vật mà không bị nhòe màu.

Tranh lụa Mơ mộng (Le Rêve"

Tranh sơn dầu Dâng hiến (L’Offrande, 1964)

Tác phẩm là đại diện xuất sắc cho thời kỳ bùng nổ màu sắc tại miền Nam nước Pháp. Bút pháp tự do, màu sắc tươi sáng kết hợp cùng cấu trúc nhân vật chặt chẽ tạo nên một tổng thể dạt dào cảm xúc.

Tranh sơn dầu Dâng hiến (L’Offrande, 1964)

Tranh sơn dầu Hòa hợp (1978)

Tác phẩm đánh dấu sự thăng hoa của màu sắc và cấu trúc hình khối vững chãi, khẳng định phong cách độc bản, nơi kỹ thuật phương Tây hòa quyện tuyệt đối vào tinh thần phương Đông.

Tranh sơn dầu Hòa hợp (1978)

Tranh sơn dầu Thần tính (Divinité, 1984)

Bản tuyên ngôn trọn vẹn nhất cho “Màu xanh Cao Đàm”. Hình ảnh chư Phật từ bi kết hợp cùng lớp sơn đắp dày (impasto) mang lại cảm giác vô cùng siêu thoát, minh chứng cho sự giác ngộ triết lý nhà Phật.

Tranh sơn dầu Thần tính (Divinité, 1984)

Xem thêm: Bậc thầy tranh lụa Lê Thị Lựu của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

 

Lời kết

Nhìn lại hành trình gần một thế kỷ của Vũ Cao Đàm, ta thấy trọn vẹn chân dung một bậc thầy xuất chúng. Bằng cách dùng ngôn ngữ tạo hình phương Tây dệt nên những giấc mơ phương Đông, ông đã đưa cốt cách Việt vươn tầm di sản. Những kỷ lục đấu giá toàn cầu hôm nay chính là lời vinh danh xứng đáng nhất cho một đời tận hiến kiêu hãnh.

Tags:

Không một rào cản nào có thể ngăn chúng ta chinh phục ước mơ của chính mình. Hãy để Bụi giúp bạn rút ngắn con đường chạm đến đam mê hội họa nhé!

Đăng ký khóa học để nhận ngay ưu đãi hấp dẫn trong hôm nay nha bạn ơi!